Khám bệnh bằng máy đo áp huyết tìm ra được bệnh Ung Thư Máu.


Nữ bệnh nhân ở Toronto, khoảng 40 tuổi, người gầy ốm, mặt xanh xao, vai rút, thở khó như suyễn mãn tính, cơ thể suy nhược, mắt đờ đẫn, không còn thần sắc, tinh thần lo sợ, không có hơi sức để nói, nên bệnh nhân không khai bệnh được.

A-Khám bệnh bằng máy đo áp huyết :

Khi bệnh nhân nằm trên bàn khám, tôi đo áp huyết hai tay có kết qủa như sau :

Tay trái 128/68mmHg mạch 115, tay phải 115/66mmHg mạch 102, tay chân lạnh, da khô.

B-Định bệnh :

Theo tây y thì kết quả áp huyết như vậy là tốt, chỉ có mạch bị nhanh, nhưng theo khí công là áp huyết giả, bệnh thuộc hàn giả nhiệt, vì bắt mạch thuộc mạch sác là mạch nhiệt 115 và 102, áp huyết không cao là khí lực không mạnh, không thuộc mạch phù, khí không thấp không thuộc mạch trì, mà khí thuộc mạch trầm, nên đông y gọi mạch có số đo này là mạch trầm sác. Nếu trầm sác thì tứ chi phải thực nhiệt thì có da khô, nhưng chân tay lại lạnh là mâu thuẫn, vì thế mạch này đã đánh lừa thầy thuốc thiếu kinh nghiệm.

Theo khí công, khi người lạnh, chân tay lạnh mà số đo áp huyết có mạch cao, nguyên nhân do thiếu máu (huyết). Nếu một người có đủ huyết thì mạch đập trung bình là 75, căn cứ vào mạch trung bình này để tìm áp huyết thực theo cách tính sau đây :

Áp huyết tay trái mạch 115 trừ đi mạch tiêu chuẩn 75, thì do thiếu máu mà tim đã phải đập nhanh hơn 40 lần. Do đó áp huyết giả đo được 128 trừ đi 40, áp huyết thật sẽ là 88/68mmHg mạch 75.

Cách tính áp huyết bên tay phải cũng vậy, mạch 102-75, tim đã phải đập nhanh hơn 27 lần, áp huyết giả đo được 115/66mmHg mạch 102 thì áp huyết thật sẽ là 88/66mmHg mạch 75. Áp huyết này so sánh với áp huyết tiêu chuẩn của khí công theo lứa tuổi dưới đây là tình trạng khí huyết đều thiếu, dưới áp huyết của đứa bé 1 tuổi không đủ khí huyết nuôi đầy đủ các tế bào của một thân xác người lớn 40 tuổi, do đó kết luận bệnh này là bệnh ung thư máu :

95-100/60-65mmHg, mạch tim đập 60 là áp huyết ở tuổi thiếu nhi.( 5 tuổi-12 tuổi)
100-110/60-65mmHg, mạch tim đập 65 là áp huyết ở tuổi thiếu niên (13 tuổi – 17 tuổi)
110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi)
120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)
130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)

Khi tôi khám và định bệnh xong, tôi nói : Cô bị bệnh ung thư máu. Bệnh nhân nghe xong giựt mình, trả lời : Con bị ung thư máu, đang chữa hóa xạ trị được đến lần thứ 7. Cơ thể mất sức dần, không ăn ngủ được, khó thở, đau nhức da thịt toàn thân.

C-Cách chữa theo Tinh-Khí-Thần :

Tôi cho biết, ung thư là do thiếu khí huyết, như một cây cao lớn mà mỗi ngày chỉ tưới nước rất ít như tưới nước cho một cây bé, thì cây sẽ chết khô, con người thiếu khí huyết cũng như vậy. Cho nên, dù chữa theo cách nào, phương pháp nào của tây y hay đông y, mà áp huyết mỗi ngày hay mỗi đợt chữa trị phải tăng lên dần đúng theo tiêu chuẩn ở trên là khỏi bệnh, còn càng chữa áp huyết càng xuống thấp là phương pháp chữa đó đã sai, thiếu khí huyết con người phải chết oan uổng vì sự sai lầm này.

Do đó cách chữa của khí công không cần diệt tế bào ung thư, vì cơ thể không đủ máu nuôi dưỡng đủ các tế bào, nên tế bào không được máu nuôi dưỡng sẽ bị hủy hoại dần mới trở thành tế bào ung thư, sẽ tự phát triển vô tổ chức làm tắc nghẽn tuần hoàn khí huyết gây đau đớn da thịt và toàn thân. Nên việc ưu tiên là phải bổ máu và biết cách giữ công thức máu không bị phá vỡ bằng cách luyện khí tăng cường oxy cho cơ thể để máu có nhiều oxy sẽ không bị trở thành máu đen, vì công thức máu đen là oxyde sắt nhị Fe2O2, nếu cơ thể có thêm oxy do biết cách hít thở máu đen sẽ biến thành máu đỏ oxyde sắt tam Fe2O3, ngược lại không biết cách hít thở khí công, cơ thể mất thêm oxy thì máu đen oxyde sắt nhị mất Oxy chỉ còn lại chất sắt Fe2, lúc đó cơ thể mất máu, máu bị khô đen, mầu da biến đổi thành xanh đen, lúc đó áp huyết xuống đến dưới 80, mạch cao hơn 120, các tế bào chết, cơ thể đau đớn, hơi thở thoi thóp cho đến khi tim mạch ngưng đập.

Cách điều chỉnh Tinh :

1-Cần phải tiếp máu, uống hay chích B12 với truyền nước biển.

2-Ăn uống những thức ăn có chất bổ máu, những chất làm tăng dương, tăng khí lực, như súp thịt bò, rau dền, củ dền, súp xương gà, súp đồ biển…

3-Kiêng ăn những chất chua hàn lạnh làm mất máu, mất hồng cầu.

4-Mỗi lần ăn ít một chia làm nhiều lần để cơ thể dễ hấp thụ và tiêu hóa.

5-Uống nước trà gừng mật ong, trà quế gừng mật ong, trà bạch quả (ginkgo) hay thuốc bổ ống Ginkgo để thanh lọc máu, tăng cường oxy cho máu, giúp phục hồi chức năng thần kinh não bộ cho tỉnh táo, tăng cường chức năng tạng phủ làm việc đồng bộ, giảm đau, an thần, ngủ ngon.

Đo áp huyết theo dõi thức ăn uống mỗi ngày, nếu thấy áp huyết tăng dần là có kết qủa khỏi bệnh.

Cách điều chỉnh Khí :

1-Tập bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 50 lần sau mỗi bữa ăn 30 phút, ngày ăn 6 lần thì tập 6 lần, giúp cơ thể tăng tính hấp thụ và chuyển hóa chất bổ của thức ăn thành máu đỏ, loại bỏ độc tốn nhanh theo đường tiêu tiểu, sẽ không bị táo bón hay tiêu chảy, bài tập này làm da tươi nhuận hồng hào, mềm mại.

2-Khi cơ thể có sức lực, khi đi đứng không bị chóng mặt hay mệt mỏi, sẽ tập thêm những bài tập khí công ở thế đứng như :

a-7 bài đầu khí công để phục hồichức năng thần kinh.
b-Bài Vỗ Tay 4 Nhịp 100 lần tăng tăng oxy cho tim phổi.
c-Bài Cúi Ngửa 4 Nhịp 20 lần để cung cấp máu lên nuôi não.
d-Bài Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực 50 lần sau đó ngậm miệng giữ khí, đo lại áp huyết sẽ thấy áp huyết tăng, cơ thể nóng ấm, hơi thở mạnh, cảm thấy khỏe.

Cách điều chỉnh Thần :

Tối trước khi đi ngủ 30 phút, nằn tập thở thiền ở Đan Điền Thần.

Nam đặt bàn tay trái, nữ đặt nhẹ bàn tay phải lên mỏm xương ức nơi Đan Điền Thần, tay kia đặt chồng lên trên, thả lỏng vai. Cuốn lưỡi ngậm miệng, nhắm mắt, thở bằng mũi bình thường giống như lúc đang ngủ, chỉ cần cho bộ óc làm việc theo dõi bụng phồng lên xẹp xuống theo hơi thở tự nhiên, cách này gọi là theo dõi hơi thở, danh từ chuyên môn gọi là Quán Tức (quan sát hơi thở), không những quan sát hơi thởm còn theo dõi để ý khí huyết chuyển động trong bụng như sôi bụng, bụng nóng ấm, bàn tay rịn mồ hôi, khí chạy từ ngực, từ bao tử, từ gan chạy xuống bụng dưới….

Khi quán tức được chính xác, bắt đầu luyện trí nhớ để tập trung ý vào nơi bụng đang phồng lên xẹp xuống, bắt đầu đếm hơi thở mỗi khi bụng xẹp xuống, đầu ghi nhớ là 1 lần, rồi bụng xẹp lần thứ 2 ghi nhớ là 2 lần, đếm từ 1 đến 10 kể là 1 chục, rồi từ 1 đến 10 nữa kể là 2 chục, 1 đến 10 nữa kể là 3 chục, có thể đếm lên tới 100 chục trở lên mà không nhầm lẫn thì trở thành thiền sư rồi.

Có hai công dụng của thiền :

Nếu đạt tới 100 chục lần thì lúc đó đã đạt được trạng thái Thiền Tỉnh Thức, tức là sóng não xuống thật thấp khoảng 1-2 Hertz dưới tần số ngủ là 5-6 Hertz mà vẫn tỉnh táo, như vậy người ta mới so sánh 1 giờ thiền tương đương với 2 giờ được ngủ ngon không mộng mị.

Nếu không đạt được trạng thái Thiền Tỉnh Thức, vì chúng ta không phải là Thiền sư, nên vừa mới đếm được tối đa khoảng 30 chục đã rơi vào trạng thái Hôn Trầm (buồn ngủ) bàn tay đã mất sự kiểm soát của bộ não, tự nhiên rơi xuống, cơ thể thả lỏng, đi vào giấc ngủ sâu mà không biết, khi giựt mình tỉnh giấc là đã ngủ được 8 tiếng êm đềm không mệt mỏi đau đớn mộng mị.

Cho nên tập thiền là liếu thuốc an thần, giảm đau, mau phục hồi thể lực, tăng hồng cầu, tăng tính hấp thụ và chuyển hóa, tăng cường hệ miễn nhiễm của cơ thể. Nếu tập được đúng như thiền sư thì không cần ngủ, thức đến sáng mà không mệt mỏi, đó là thiền Tỉnh Thức, bộ óc và thần kinh cũng thư giãn như được ngủ 16 tiếng, còn chỉ bắt đầu tập thở thiền đếm hơi thở được 5 phút là cơ thể rơi vào hôn trầm, được ngủ say sưa 8 tiếng cho đến sáng thức dậy con người cảm thấy tỉnh táo nhẹ nhàng khỏe mạnh, như người không bệnh tật, thì mọi bệnh tự nhiên được tiêu trừ.

Cầu ơn trên giải nghiệp bệnh :

Tuy nhiên, những ngườt bị bệnh ung thư, giống như người nghiện thuốc. Muốn khỏi bệnh thì phải có nghị lực quyết tâm bỏ thuốc thì sẽ bỏ được bệnh nghiện dễ dàng. Những hướng dẫn và giải thích nguyên nhân và hậu qủa thiếu máu, thiếu khí từ năm này sang năm khác lâu dài hơn 10 năm trở lên, sẽ gây ra mọi bệnh ung thư, nếu áp dụng đúng theo cách hướng dẫn trên thì khỏi bệnh, nhưng không mấy ai chịu theo, cứ phó mặc cho thầy thuốc, và hậu qủa dẫn đến tử vong, nên thế gian gọi là nghiệp bệnh vì không có nghị lực hay không có sức để tập luyện, do đó lại cần phải có sự trợ lực của tha lực của chư vị thần thánh, gọi là thần lực.

Nên bệnh nhân này đã được hướng dẫn cầu ơn trên giải nghiệp bệnh. Sau khi được tập múa làm tăng thể lực khoảng 30 phút, bệnh nhân xuất mồ hôi, tăng khí lực, tăng hồng cầu, tăng áp huyết, trong lúc tập không đau đớn mệt mỏi, khi nói chuyện, giọng nói mạnh, nét mặt tươi vui mừng rỡ.

Tôi cho bệnh nhân biết, bệnh nhân phải tự cứu mình, cần phải siêng năng tập luyện, bỏ những thứ thuốc có nhiều độc tố gây mất máu mất khí, làm thiếu máu, khiến cơ thể suy nhược thêm, cần phải yêu cầu bệnh viện cho tiếp thêm máu, kiên trì tập luyện, bổ sung những thức ăn bổ dưỡng để mau khỏi bệnh. Sự sống chết còn tùy vào nghiệp bệnh và nghị lực của mỗi người.

Thân

doducngoc

Cách chữa bệnh tụt tiểu cầu

Cách chữa bệnh tụt tiểu cầu .

http://khicongydaovietnam.wordpress.com/2010/12/23/bai-346/

 

Câu hỏi:

Thưa thầy!

Con bị mắc bệnh tụt tiểu cầu quá mức. Qua tìm hiểu con thấy bệnh này rất nghiêm trọng, rất khó chữa và có thể bị chết bất cứ lúc nào?

Con không biết cách chữa trị làm sao? Việc ăn uống phải tránh những thứ gì? Con phải làm thế nào để có sức khỏe như người bình thường?

Con rất mong được thầy chỉ dạy”

Trả lời :

 

 

A-Khám Bệnh :
Bệnh thiếu máu tiểu cầu và hồng cầu do nhiều nguyên nhân như :

 

Cơ thể thiếu chất sắt, thiếu khả năng hấp thụ chất sắt, xuất huyết như sốt xuất huyết làm vỡ tiểu cầu hoặc xuất huyết ẩn, tăng sắt-huyết do rối loạn cấu tạo hémoglobin, thiếu máu vùng biển, thiếu máu nguyên bào do thuốc chữa lao, sốt rét, thương hàn…, nhiễm độc chì, trong những bệnh nhiễm khuẩn và trong những bệnh ung thư…Dấu hiệu thiếu tiểu cầu làm cho da có nhiều vết bầm, hay xuất huyết ẩn đi cầu ra phân nâu đen…

Theo khí công, tìm nguyên nhân của mọi bệnh tật bằng máy đo áp huyết được đo ở hai tay, trước và sau khi ăn 30 phút, tất cả các bệnh trong con người đều hiện ra bằng những con số trên máy đo áp huyết mà ngành y học đã tìm ra cách đo khí và huyết trong cơ thể con người.

Kết qủa của số đo áp huyết có 3 con số, con số thứ nhất chỉ khí lực co bóp của qủa tim khi co lại để đẩy máu từ tim ra ngoài theo các động mạch dẫn máu đi nuôi các tế bào, tây y gọi là số tâm thu. Số thứ hai chi khi qủa tim trương nở để hút máu về tim gọi là số tâm trương, theo đông y là lực đàm hồi của van tim. Số thứ ba là nhịp tim khi bóp vào, nở ra trong 1 phút, gọi là nhịp mạch đập của tim.

Sự hoạt động của tim bị thay đổi theo ngũ hành tạng phủ của đông y, theo vòng tương sinh của có quan hệ mẹ con, hay theo vòng tương khắc giữa thận và tim. Thí dụ như tim thuộc hành hỏa, nó bị ảnh hưởng của mẹ nó là gan mộc, chức năng hư hay thực, nếu chức năng gan thực sẽ làm tăng áp huyết, chức năng hư sẽ làm giảm áp huyết. Nó cũng bị ảnh hưởng của con nó là tỳ vị thổ từ thức ăn và sự lệ thuộc vào chức năng hấp thụ và chuyển hóa, nếu tỳ vị thực cũng làm cho áp huyết tăng, tỳ vị hư làm cho áp huyết giảm.

Khi đo áp huyết có kết qủa ở hai tay, đem so sánh với tiêu chuẩn lứa tuổi, chúng ta sẽ thấy 3 trường hợp. Trường hợp người khỏe mạnh không bệnh tật, các số đo ở hai bên tay đều lọt vào tiêu chuẩn đúng lứa tuổi. Trường hợp cao hơn là có bệnh cao áp huyết, theo đông y là bệnh thực vì dư thừa khí huyết mới làm ra bệnh, nhưng bên trái cao là nguyên nhân do bao tử, bên phải cao là nguyên nhân do gan, cả hai bên đều cao là do cả 3 tạng đều bệnh thực…thí dụ những trẻ em có áp huyết cao trong lứa tuổi của người lớn, thì khi huyết dư thừa sẽ bị chảy máu cam, khí dư thừa sẽ bị bệnh động kinh. Vì tây y không biết nguyên nhân này, nên chữa bệnh chảy máu cam và bệnh động kinh không có kết qủa.

Trường hợp thấp hơn là có bệnh áp huyết thấp, đông y gọi là bệnh thiếu khí huyết, nhờ máy đo áp huyết cũng sẽ biết được nguyên nhân do gan hay bao tử… thí dụ người lớn mà áp huyết chỉ bằng đứa trẻ, nếu khí thiếu thì bị đau nhức, mệt mỏi, hen suyễn, ăn không tiêu, khó thở…nếu thiếu máu nhiều thì hay quên, rụng tóc, không đủ máu nuôi dưỡng các tế bào, nên các tế bào bị hủy hoại sẽ trở thành tế bào ung thư, vì tây y không biết nguyên nhân bệnh ung thư là bệnh thiếu khí huyết trầm trọng kéo dài mấy chục năm, từ khi áp huyết ở tuổi thiêu nìên cho đến mấy chục năm sau đã ở tuổi trung niên hay lão niên mà khí huyết vẫn chỉ đủ nuôi cơ thể của một thiếu niên, lúc đó các tế bào đã bị hủy hoại qúa nhiều mới trở thành bệnh ung thư thì cứu chữa không kịp.

Dưới đây là bảng tiêu chuẩn áp huyết phân loại tuổi theo kinh nghiệm của khí công y đạo :

95-100/60-65mmHg, mạch tim đập 60 là áp huyết ở tuổi thiếu nhi.( 5 tuổi-12 tuổi)

100-110/60-65mmHg, mạch tim đập 65 là áp huyết ở tuổi thiếu niên (13 tuổi – 17 tuổi)

110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi)

120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)

130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)

Những nguyên nhân gây ra mọi bệnh cho con người đều có thể biết được qua máy đo áp huyết mà đông y gọi là máy đo khí huyết. Khí và huyết của con người bị thay đổi không đúng tiêu chuẩn do sự thay đổi của Tinh-Khí-Thần.

Nguyên nhân do Tinh :

Do ăn uống sai lầm không phù hợp với nhu cầu mà cơ thể cần. Thí dụ cơ thể thiếu máu cần phải ăn những chất bổ máu, thiếu chất sắt phải ăn những thức ăn có chất sắt…nhưng mình lại không ăn những chất bổ máu mà ngược lại còn ăn những chất phá hỏng máu là những chất chua như chanh, cam, bưởi, dứa, dưa chua…vừa làm mất máu mất hồng cầu.

Những thức ăn từ thực vật, động vật đối với đông y đều là thuốc, theo phân chất của khoa học, có những chất tốt, chất xấu, đối với đông y sắp vào loại thuốc dùng để bổ hay dùng để tả cho phù hợp với những loại bệnh cần chữa.

Nếu phân tích thức ăn theo nguyên tắc phản ứng hóa học, thì những thức ăn là những nguyên tố bên ngoài cơ thể, sẽ phản ứng với những nguyên tố bên trong cơ thể tạo ra một chất thuốc làm cho cơ thể mạnh lên gọi là hưng phấn, hoặc ngược lại làm yếu đi gọi là ức chế, để cơ thể lập lại quân bình về khí huyết, thì bệnh sẽ mau khỏi.

Tây y giỏi phân chất những yếu tố bên ngoài, nhưng không giỏi về phân tích những yếu tố bên trong cơ thể, nên đã hướng dẫn con người cách dùng thực phẩm theo một chiều chủ quan, chỉ nói đến cái lợi và hại của thực phẩm, tức là về hai mặt, mà chưa biết về ngũ hành tạng phủ để cho con người biết chất đó chỉ có lợi để chữa những bệnh gì, để biết cách dùng những chất đó bồi bổ cho cơ thể, và sẽ có hại cho những bệnh gì thì chúng ta sẽ dùng nó trong trường hợp cần tả.

Thí dụ như gần đây, y học tìm ra công dụng của chanh (xem bài 347), nhưng không nói rõ, nó chính là nguyên nhân làm mất hồng cầu, tiểu cầu, mất máu, làm hạ áp huyết, làm tiêu mỡ, giảm mập, nó chỉ giết tế bào ung thư mà không phục hồi được lượng máu để nuôi tế bào lành, và khi tế bào lành mất máu nuôi dưỡng lại trở thành tế bào bị hủy hoại khiến bệnh ung thư tái phát.

Nguyên nhân do Khí :

Cơ thể không đủ oxy để duy trì công thức máu Fe2O3, do không vận động để tăng tính hấp thụ và chuyển hóa thức ăn thành chất bổ, không biết cách hít thở, và cách tập để loại bỏ độc tố trong máu, trong thức ăn.

Nguyên nhân do Thần :

Chức năng hoạt động của hệ thần kinh yếu kém, không điều chỉnh được thân nhiệt và mất kiểm soát chức năng hoạt động của các tạng phủ được đồng bộ, để làm hưng phấn, hay ức chế khi cần thiết.

B-Cách chữa theo Tinh-Khi-Thần :

Tinh :

1-Để giảm việc mất tiểu cầu, cơ thể cần oxy có trong nước. Máu thiếu nước sẽ bị khô đặc, nên nưóc vừa làm loãng máu vừa có tính chuyển hóa oxy để duy trì công thức máu không bị phá hủy.

Trong bệnh sốt xuất huyết làm vỡ và mất tiểu cầu, theo tây y là một loại bệnh sốt xuất huyết nguy hiểm phải dùng trụ sinh và truyền nước biển thời gian điều trị mất 1 tháng, trong khi đó chỉ cần cách mỗi giờ uống 1 ly nước lọc, và cho ngậm 1 viên kẹo Vitamine C 50mg. Như vậy tổng số nước dùng trong ngày là 10 ly= 2,5 lít nước và 500mg vit.C, cơn sốt xuất huyết hạ dần, vết da thâm đen do vỡ tiểu cầu mất dần, dùng trong 3-5 ngày không cần một viên trụ sinh nào mà khỏi bệnh sốt xuất huyết. (xem bài : Thói quen uống nước nhiều lợi hay hại)

2-Uống thuốc bổ máu B12 hay Swical Energy, hoặc chích B12 và truyền nước biển, khi áp huyết lên đủ tiêu chuẩn và vết thâm đen trên da biến mất. Không nên lạm dụng truyền nước biển nhiều làm hư thận, người sẽ bị hàn lạnh, môi và quầng mất sẽ bị thâm đen như nhuộm chàm.

3- Sau mỗi bữa ăn có thể uống nước quế hay gừng pha mật ong giúp duy trì thân nhiệt, làm tăng áp huyết, làm mạnh chức năng tỳ vị để chuyển hóa thức ăn thành chất bổ máu.

4-Tối đi ngủ uống Sirop bổ máu Đương Quy Tửu (Tankwe-Gin) làm tăng hồng cầu, tiểu cầu.Khí :

1-Tập toàn bài thể dục khí công theo DVD hướng dẫn.

2-Cần tập bài Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực 200 lần làm tăng áp huyết và hồng cầu.

3-Tập bài Cúi Ngửa 4 Nhịp 20 lần để cung cấp máu lên nuôi não làm mạnh chức năng thần kinh.

4-Tập bài Nạp Khí Trung Tiêu làm tăng áp huyết, tăng tính hấp thụ và chuyển hóa thức ăn thành chất bổ, và bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 200 lần để thông khí huyết toàn thân, giúp tiêu hóa và loại bỏ độc tố nhanh.

Thần :

Trước khi đi ngủ nằm tập thở thiền ở Đan Điền Thần, làm tăng hồng cầu và tiểu cầu.

Thân

Doducngoc

Tiên hạc thảo vị thuốc kỳ diệu

Tiên hạc thảo.
Tương truyền, thời xưa có hai chàng tú tài lên kinh dự thi. Do sợ đến muộn, khi đi qua một vùng núi, trời nắng gắt, vẫn không dám nghỉ.
Do quá mệt mỏi, một người bỗng nhiên lên cơn sốt, máu từ mũi chảy ra không ngừng. Họ đành dừng lại tìm cách chữa trị. Nhưng ở nơi hoang dã ấy, làm sao có thể tìm thầy thuốc, mà chung quanh cũng không có thứ gì có thể dùng để chữa trị. Đang lúc bối rối, không biết phải làm gì, thì có một con hạc trắng, mỏ ngậm một nhánh cây bay qua. Hạc trắng nhìn thấy họ, lượn quanh mấy vòng, rồi thả cành cây đang ngậm xuống ngay trước mặt chàng tú tài đang bị bệnh nặng, rồi lại bay đi. Chàng trai cầm lấy nhánh cây, thử đưa vào miệng nhai, cảm thấy đỡ khát, người mát dần, rất dễ chịu, chẳng bao lâu máu từ mũi cũng ngừng chảy. Hai người rất ngạc nhiên, nghỉ thêm một lát, lại tiếp tục lên đường. Họ kịp đến kinh đô dự thi và đều được đăng quang tiến sĩ. Sau khi nhậm chức, chàng trai mang mẫu cây về cho các thầy thuốc ở kinh đô nghiên cứu, đã phát hiện đó là một loại thuốc có tác dụng cầm máu rất tốt. Liền quyết định đặt tên là “tiên hạc thảo” (cỏ hạc tiên), để tỏ lòng biết ơn con hạc đã giúp họ trong lúc hiểm nghèo.

Tiên hạc thảo còn có một số tên khác, như long nha thảo, qua hương thảo, tử mẫu thảo, hoàng hoa thảo, thoát lực thảo, địa thiên thảo, phụ tử thảo, mao kê thảo, lang nha thảo, tả lị thảo; tên khoa học là – Agrimonia nepalensis D. Don (Agrimonia eupatoria auct. non L.); thuộc họ hoa hồng (Rosaceae). Là loài cây mọc ở cả châu Âu và châu Á. Tại Việt Nam, tiên hạc thảo mọc hoang nhiều trên các vùng núi cao ở các tỉnh Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng…

Về mặt thực vật, tiên hạc thảo là loại cỏ sống lâu năm, cao 0,5-1,5m; toàn thân có vạch dọc và mang lông trắng, nhiều cành. Thân rễ mọc ngang, đường kính có thể đạt tới 1cm. Đầu mùa hè cây đâm mầm, mọc ra nhiều cánh, lá xum xuê. Lá mọc so le, kép lông chim, dìa lẻ; lá chét hình trứng dài, mép có răng cưa to. Cạnh những lá chét to có nhiều lá chét nhỏ. Lá chét to dài chừng 6cm, rộng chừng 2,5cm; lá chét nhỏ có khi chỉ dài 5mm. Cả hai mặt lá đều mang nhiều lông. Hoa nhỏ mọc thành chùm mọc ở đầu cành hoặc kẽ lá. Cánh hoa màu vàng. Quả gồm 2-3 quả bế bọc xung quanh bởi đế hoa có đài ở mép trên. Toàn bộ có nhiều gai. Để dùng làm thuốc, thường dùng toàn cây, dùng tươi hoặc phơi hay sấy khô.

Trong sách thuốc Đông y hiện đại, tiên hạc thảo được xếp trong loại thuốc “chỉ huyết” – thuốc chống chảy máu. Loại thuốc chỉ huyết Đông y phân chia thành 4 nhóm nhỏ, tùy theo cơ chế tác động lên huyết dịch: lương huyết chỉ huyết, hóa ứ chỉ huyết, thu liễm chỉ huyết và ôn kinh chỉ huyết. Tiên hạc thảo được xếp trong nhóm “thu liễm chỉ huyết”, cùng với bạch cập, tử chu, huyết dư thán, ngẫu tiết…

Theo Đông y, tiên hạc thảo có vị đắng chát, tính ấm, vào 4 kinh tâm, phế, can và thận. Có tác dụng thu liễm chỉ huyết, trị lỵ (chữa kiết lỵ), tiệt ngược (chống sốt rét), bổ hư (bồi dưỡng cơ thể). Thời xưa, dân gian thường sử dụng tiên hạc thảo làm thuốc cầm máu, chữa thổ huyết, khái huyết (ho ra máu), nục huyết (đổ máu cam), đi lỵ phân lẫn máu, sốt rét và mụn nhọt lở loét ngoài da. Hiện tại trên lâm sàng, tiên hạc thảo thường được sử dụng chữa các bệnh như ban xuất huyết do giảm tiểu cầu, ban xuất huyết do dị ứng, bệnh ưa chảy máu (hemophilia), xuất huyết đường tiêu hóa, xuất huyết đường tiết niệu, xuất huyết tử cung…

Liều dùng hằng ngày: 6-15g, dưới dạng thuốc sắc; một số trường hợp có thể sử dụng liều cao hơn.

Các nghiên cứu hiện đại cho thấy, tiên hạc thảo là vị thuốc có phổ tác dụng tương đối rộng. Chất agrimonin chiết xuất từ tiên hạc thảo có tác dụng rút ngắn thời gian chảy máu xuống còn 50%, đồng thời làm tăng lượng tiểu cầu trong huyết dịch. Cao thuốc chế từ tiên hạc thảo có tác dụng làm co mạch ngoại biên, tăng tốc độ đông máu rõ ràng. Thuốc nước chế từ tiên hạc thảo có tác dụng ức chế rất mạnh đối với tụ cầu khuẩn vàng, trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn coli, trực khuẩn lỵ, trực khuẩn thương hàn và trực khuẩn lao. Ngoài ra, agrimol trong tiên hạc thảo có tác dụng trừ sán; tannins trong tiên hạc thảo có tác dụng chống virut gây bệnh mụn rộp.

Các kết quả nghiên cứu được lý hiện đại không những đã chứng minh kinh nghiệm sử dụng tiên hạc thảo làm thuốc cầm máu và chữa trị một số chứng bệnh viêm nhiễm là có cơ sở, mà còn phát hiện thêm hai tác dụng mới, đó là tác dụng chống ung thư và HIV.

Kết quả nghiên cứu ở Trung Quốc cho thấy: tiên hạc thảo có tác dụng ức chế mạnh đối với tế bào ung thư mô liên kết S180, ung thư ruột, ung thư gan và một số loại ung thư khác. Còn theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Nhật công bố trên Nhật Bản dược học tạp chí và Hán phương nghiên cứu: Tiên hạc thảo có tác dụng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư rất mạnh, mà không ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của tế bào bình thường.

Đặt biệt, kết quả nghiên cứu dược lý thập niên gần đây còn phát hiện thêm, tiên hạc thảo có tác dụng tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể; các chất quercetin, lateoin, ursolic acid,… trong tiên hạc thảo có tác dụng ức chế khả năng tái sinh của virut HIV. Hiện tại tiên hạc thảo bắt đầu được sử dụng trên lâm sàng cho các bệnh nhân HIV/AIDS.

Một số bài thuốc tiêu biểu có dùng tiên hạc thảo:

– Chữa các chứng xuất huyết (khái huyết, thổ huyết, tiện huyết, niệu huyết, băng lậu): Dùng tiên hạc thảo 30-50g tươi, giã vắt lấy nước uống. Hoặc dùng tiên hạc thảo 15g khô sắc nước uống. Tùy theo bệnh tình, có thể phối hợp với hòe hoa, hạn liên thảo (cỏ nhọ nồi) 10g, bồ hoàng,… cùng sắc nước uống.

– Chữa ban xuất huyết do giảm tiểu cầu: dùng tiên hạc thảo 20g, đan bì 10g, sinh địa 10g, kim ngân hoa 12g, tử thảo 10g, sắc nước uống trong ngày.

– Chữa nổi hạch, tràng nhạc: tiên hạc thảo 20g, nga truật, ngưu tất, xạ can, huyền sâm, mỗi vị 12g, sắc uống.

– Hỗ trợ điều trị ung thư:

Ung thư phổi ra mồ hôi trộm: dùng tiên hạc thảo 15g, hồng táo 10 trái, sắc nước uống thay trà trong ngày.

Ung thư vú giai đoạn đầu: tiên hạc thảo 30g, bồ công anh 30g, ngâm trong 500ml rượu trắng, sau 40-50 ngày chắt lấy rượu thuốc. Ngày uống 3 lần, mỗi lần dùng 10ml rượu thuốc, hòa thêm 1 thìa mật ong uống.

Ung thư trực tràng, ung thư cổ tử cung: tiên hạc thảo, bại tương thảo, mỗi thứ 50g, sắc nước uống thay trà trong ngày.

– Chữa xuất huyết ở bệnh nhân HIV/AIDS: Dùng tiên hạc thảo 30g, bạch mao căn 30g, hải kim sa 30, bạch hoa xà thiệt thảo 30g, chi tử 15g, xa tiền thảo; sắc nước uống trong ngày. Dùng trong trường hợp bị lây nhiễm HIV, phát hiện với các triệu chứng: niệu huyết, chân răng xuất huyết và chảy máu mũi (theo tài liệu Trung Quốc).
Hồng Hạnh (Theo Lương y Huyên Thảo – SK&ĐS

Sứ mạng của hoa hải đằng

Monday, 24/01/2011 – [ 09:52 GMT+7 ]

Nổi tiếng từ một sự nhầm lẫn hay sai sót trong khoa học, loài hoa hải đằng được ví như là thần hộ mệnh của những bệnh nhân ung thư máu và đem lại sức hồi sinh như sức sống của mùa xuân mới…

Loài hoa hải đằng

Hoa hải đằng có tên gọi khác là cây dừa cạn. Vì hoa của chúng không chỉ nở vào mùa xuân mà còn cả những mùa khác nữa nên người ta còn đem tặng nó nhiều cái tên mỹ miều khác như trường xuân hoa, tứ thời hoa, nhật nhật hoa, cây bông dừa, dương giác. Tên khoa học là Catharanthus roseus L hay Vinca rosea L, thuộc họ trúc đào. Phần Catharanthus do chữ kartharos trong tiếng La-tinh mang ý nghĩa là tinh khiết mà thành. Còn chữ anthos có nghĩa là hoa đẹp đến độ tinh khiết của một thành viên họ trúc đào.

Ở Việt Nam, cây được trồng nhiều ở các tỉnh gần biển nhưng khắp mọi nơi đều có thể trồng được loại cây này.

Ít ai ngờ rằng loài hoa đầy mong manh và mềm mại này lại chứa trong mình cả một kho hoạt chất sinh học. Nếu gọi là cây cảnh cũng đúng, nhưng gọi là thảo dược cũng chẳng sai vì ở trong cây luôn tồn tại hai đặc tính đẹp và dược tính. Từ hải đằng người ta đã chiết xuất được nhiều chất hoá học khác nhau có giá trị với các phòng nghiên cứu dược và với ngành khoa học vì con người. Một vài loại như axít pyrocatechic, sắc tố flavonoid, anthrocyanic từ thân và lá dừa cạn hoa đỏ, axít ursonic từ lá và cholin từ rễ. Hiện nay, người ta đã xác định hoạt chất chính của dừa cạn là các ankaloid có nhân idol có trong tất cả các bộ phận của cây, nhiều nhất trong rễ và lá.

Nếu tính tổng số các hợp chất hoá học trong cây hải đằng thì chúng ta có thể ghi được số 55 trong bảng tổng hợp. Tuy nhiên người ta cũng chưa khám phá hết được những tính năng dược lý của loại cây quý này. 55 hợp chất này bao gồm: các alkaloid monomer có nhân idol và các alkaloid dimer không đối xứng gần như là nhóm chất đặc thù của loại dừa cạn Catharanthus roseus. Tiêu biểu là vincaleucoblastin (vinblastin), leurocristin (vincristin). Đây là những alkaloid quan trọng nhất của cây này vì nó các tác dụng chống ung thư. Tuy nhiên hàm lượng những alcaloid trong loại thảo dược này rất thấp, phải cần đến 500kg dừa cạn, tức là nửa tạ dừa cạn chỉ để lấy 1g vincristin hoạt chất.

Cuộc thử nghiệm nhầm lẫn

Cũng giống như sự phát hiện tình cờ ra iốt, một nhà khoa học đã hậu đậu tới mức lỡ tay gạt đổ cả một lọ iốt to tướng vào đĩa hồ tinh bột làm hồ tinh bột biến đổi thành màu xanh, sự phát hiện ra khả năng chống ung thư cũng hết sức tình cờ đến mức có thể gọi là may mắn.

Năm 1952, TS. Clark Noble, một nhà y học người Canada đã nhận được một gói chuyển phát bưu điện từ một bệnh nhân của ông. Gói bưu kiện mà ông nhận được chứa đầy lá và cây của một loại thân thảo mà ông cũng thấy lạ. Tác giả của gói bưu kiện cho biết: Hiện nay người dân vùng này đang sử dụng loại cây này để chữa tiểu đường. Thế là ông quyết định bắt tay vào nghiên cứu xem trong cái loại cây này có gì mà chúng lại có tác dụng trị bệnh hay vậy. Ông đã chuyển 25 lá của loại cây này cho anh trai của ông là Robert Noble, lúc bấy giờ là Phó giám đốc Phòng thí nghiệm nghiên cứu y học Collip của Đại học Western Ontario. Cuộc nghiên cứu cây dừa cạn hay hoa hải đằng bắt đầu.

Nhưng khoa học lần này lại không mỉm cười với ông, bởi kết quả tìm ra thật thất vọng. Ông  Robert Noble chẳng thể tìm ra được một chút nào về sự biến thiên nồng độ đường máu khi thử nghiệm với dịch chiết hải đằng. Đến con chuột cuối cùng và lần này ông lấy cả máu để “soi” thử cho bớt thất vọng thì một điều vô cùng lạ là: tế bào bạch cầu trong máu chuột lại bị suy giảm lớn, “có ý nghĩa thống kê”. Sự kiện này làm bộ óc ông loé sáng, ông không tiến hành thử nghiệm với đường máu nữa mà chuyển sang nghiên cứu các tế bào máu. Sau khi tiến hành trên hệ máu với nhiều con chuột khác nhau, ông nhận thấy rằng ở mọi con chuột đều có sự giảm không thể kiểm soát được các tế bào bạch cầu, không những ở các con chuột bình thường mà còn cả những con chuột bị ung thư hệ lympho, loại ung thư tạo ra rất nhiều bạch cầu vô dụng cần phải giảm số lượng chúng xuống (ung thư máu hay ung thư dòng bạch cầu). Chính kết quả này đã làm nảy sinh trong các bộ óc hàn lâm một logic vô cùng đơn giản: có thể có một cái gì đó trong cây này có tác dụng làm giảm bạch cầu.

Và thế là bước ngoặt nghiên cứu bắt đầu được thực hiện, từ đái tháo đường sang ung thư hệ lympho. Vào năm 1954, nhà hoá sinh Beer vào làm trong phòng thí nghiệm của Robert Noble, vào năm 1958 ông đã tinh chế thành công một loại alkaloid từ lá của loại thảo dược kỳ bí này bằng công nghệ hoá phân tử. Ông đặt tên nó là vinblastine. Và từ đó vinblastine bắt đầu được vào bệnh viện với những thử nghiệm lâm sàng đầu tiên tại Bệnh viện Princess Margaret ở bang Toronto trên những bệnh nhân bị ung thư lympho.

Sự phát hiện ra vinblastine và đặc tính chống ung thư của loài dừa cạn hay hải đằng là hoàn toàn may mắn từ một cuộc thử nghiệm nhầm lẫn. Song nếu không có cuộc thử nghiệm nhầm lẫn này, không có lòng đam mê khoa học thì chắc là phải lâu lắm nữa chúng ta mới có một loại thuốc hữu hiệu trị ung thư. Mặc dù được phát hiện tình cờ nhưng sự xuất hiện của vinblastine được coi là một mốc lịch sử mang tính bước ngoặt trong điều trị căn bệnh vẫn đang làm đau đầu giới nghiên cứu y học này.

Và ngã rẽ lịch sử

Hoạt động dược lý chính của vinblastine là ức chế hình thành thoi phân bào trong quá trình phân chia tế bào và được sử dụng trong lâm sàng để điều trị ung thư. Tế bào ung thư muốn phân chia và sinh sản nhân đôi được thì chúng cần phải có thoi phân bào để các nhiễm sắc thể chứa vật chất di truyền và các thành phần khác trượt về hai phía. Không có thoi phân bào, các nhiễm sắc thể không thể trượt được và tất nhiên phân bào không thể xảy ra. Vinblastine đã làm được điều này.

Hiện nay, vinblastine được sử dụng trong lâm sàng để điều trị bệnh Hodgkin giai đoạn III và IV, u lympho non-Hodgkin, ung thư lympho. Nó cũng được sử dụng điều trị các ung thư bàng quang, ung thư da, ung thư thận, ung thư tuyến, ung thư vú, ung thư tinh hoàn. Tuy nhiên chính tác dụng này của nó lại ảnh hưởng không tốt đến sự dẫn truyền thần kinh vì sự liên kết các vi ống được coi là đóng vai trò quan trọng trong việc dẫn truyền thần kinh dọc các sợi trục. Khi sử dụng vinblastine diệt ung thư thì ngay lập tức quá trinh dẫn truyền thần kinh cũng bị ảnh hưởng. Chính vì thế mà nó cũng không phải là một chất tốt của thần kinh, thậm chí là gây độc thần kinh.

Nhưng dù như thế nào thì với sự phát hiện ra vinblastine, ngành ung thư học đã có thêm một chất vô cùng công hiệu trong điều trị ung thư máu. Bước ngoặt điều trị ung thư như được đi sang một trang mới nhiều thành công hơn. Và cũng vì thế mà cây dừa cạn hay loài hoa hải đằng đã có vai trò trong sứ mệnh “cứu giúp” loài người.

Tự khỏi ung thư máu sau cơn sốt

Cập nhật lúc 15:07, Thứ Ba, 21/09/2010 (GMT+7)

Cậu bé Jordan, đến từ Wishaw, Anh, đã khiến các bác sĩ vô cùng ngạc nhiên khi tự khỏi căn bệnh bạch cầu đã ở giai đoạn cuối.

Jordan, ba tuổi, bắt đầu cuộc chiến đấu kỳ lạ với căn bệnh bạch cầu lympho ác tính khi mới được 10 tuần tuổi. Bé ốm đến nỗi bác sĩ tiên lượng không thể chịu được quá 48 giờ. Và nếu qua được mốc đó, cậu bé cũng chỉ còn 10% cơ hội sống sót.

Nhưng điều kỳ diệu đã xảy ra, Jordan trải qua 6 tháng hóa trị tích cực với tư cách bệnh nhân nhỏ tuổi chưa từng có tại Bệnh viện Trẻ em Yorkhill ở Glasgow, Anh. Sau đó, cậu bé được cấy ghép tủy xương và dường như căn bệnh đã thoái lui. Nhưng chỉ vài tháng sau, Jordan lại yếu đi và phương pháp hóa trị và một ca ghép tế bào gốc tiếp tục giữ cậu sống.

Nhưng vài tháng qua đi, các xét nghiệm máu cho thấy bệnh ung thư đã quay lại. “Lần này, bác sĩ bảo chúng tôi hãy tận hưởng vài tuần còn lại của bé”, chị Claire kể. Thậm chí, gia đình đã cố gắng đưa cậu bé đi chơi mọi nơi có thể vì nghĩ rằng bé không còn nhiều thời gian. Nhưng chỉ một tháng vài tháng sau đó, kết quả thử máu đã cho thấy cậu bé sạch bệnh hoàn toàn.

Mô tả ảnh.
Cậu bé Jordan đã hoàn toàn khỏe mạnh và tươi tắn bên mẹ.

“Bác sĩ nói họ không thể làm gì nữa và Jordan chỉ còn vài tuần để sống. Nhưng thời điểm đó đến nay đã là 6 tháng, và hãy nhìn thằng bé hiện giờ! Không ai có thể giải thích tại sao căn bệnh ung thư lại đột nhiên biến mất. Bác sĩ phẫu thuật gọi điện cho tôi báo tin này và nói ông ấy không thể tin được điều đó. Tôi đã òa lên khóc”, mẹ bé, chị Claire, 26 tuổi, kể lại.

Lý giải cho hiện tượng kỳ diệu trên, một số báo cáo, mà gần đây nhất là báo cáo đăng trên Tạp chí Y học Hà Lan, đã liên hệ các trường hợp tế bào bệnh bạch cầu biến mất với cơn sốt do viêm nhiễm. Các nhà khoa học đưa ra hai giả thiết: một là, sự nhiễm trùng đó mạnh đến mức tạo nên một cơn sốt, buộc hệ miễn dịch của cơ thể hoạt động mạnh, tìm kiếm các tế bào ung thư và tấn công chúng. Hai là, thân nhiệt cao có thể tự tấn công và phá hủy căn bệnh ung thư. Trên thực tế, Jordan đã sốt nhẹ ở mức 38,1 độ C một vài ngày trước khi kết quả cho thấy cậu bé hoàn toàn khỏi bệnh.

Các nhà khoa học đang nghiên cứu sức mạnh của các cơn sốt và viêm nhiễm trong quá trình điều trị cho các bệnh nhân ung thư.

Rễ bồ công anh có thể chữa ung thư máu

Cập nhật lúc 08h40′ ngày 13/11/2010
Theo nghiên cứu của Đại học Windsor, Canada, chất chiết xuất từ rễ cỏ bồ công anh có thể khiến các tế bào ung thư máu “tự chết”.Sau khi phát hiện hai bệnh nhân ung thư máu không thể điều trị bằng liệu pháp hóa trị đã khỏe lên sau một thời gian uống trà cỏ bồ công anh (Taraxacum officinale), các nhà nghiên cứu đã thử chiết xuất và thử nghiệm chất từ rễ loài thảo dược này đối với những tế bào ung thư bạch cầu.

Cây bồ công anh được nghiên cứu. Ảnh: floraphoto.com.au.

Công trình thử nghiệm đã rất thành công khi các tế bào ung thư bạch cầu “tự chết” trong vòng 24 giờ, trong khi các tế bào bình thường không bị ảnh hưởng.

Phát hiện mới của nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Windsor có thể giúp các bệnh nhân ung thư, bị kháng các loại thuốc hóa trị, có thêm cơ hội điều trị bằng các loại thảo dược không độc hại.

Nhóm nghiên cứu đang tiếp tục mở rộng chương trình với hy vọng sớm bào chế được một loại thuốc mới điều trị bệnh ung thư máu.

Theo Vnexpress

CÃI TỬ HỒI SINH CHO BỆNH NHÂN UNG THƯ MÁU (Bệnh Bạch Cầu)

CÃI TỬ HỒI SINH CHO BỆNH NHÂN UNG THƯ MÁU (Bệnh Bạch Cầu)

thuannghia | 25 December, 2010 06:55

Viết Trong Đêm Giáng Sinh


Trước đây năm bảy năm về trước, đêm Giáng Sinh tôi thường về Grimma, một thành phố nhỏ gần thành phố Leipzig ở tiểu bang Sachsen để dự đám giổ cụ thân sinh của người bạn. Là đám giổ nhằm vào đêm Noel, cho nên cũng là một dịp để bạn bè một thuở tề tựu về hội họp gặp mặt luôn thể. Từ ngày về Hamburg đến nay, dễ có 6,7 năm nay tôi không còn về tề tựu vào dịp này ở Grimma nữa.

Người bạn này là anh ruột của Ba Đen người tôi thường kể lại trong nhiều tản văn của tôi. Anh bạn này tên là Gia Cần, là đội trưởng, phiên dịch trong các đoàn xuất khẩu lao động hồi Đông Đức cũ, hiện nay là một doanh nghiệp trong nghề kinh doanh dịch vụ ăn uống.

Gia Cần có liên quan đến một giai đoạn khá “hoành tráng” trong nghề nghiệp của tôi. Chính hắn là người giới thiệu bệnh nhân ung thư máu đầu tiên mà tôi trực tiếp “cãi tử hoàn sinh” cho họ.

Năm nay Giáng Sinh, nằm vễnh râu ở Hamburg, nhớ bạn bè cũ một thời, nên muốn viết một bài giới thiệu về một phương pháp điều trị bệnh ung thư rất có hiệu quả, mà tôi đã sử dụng và đã đưa ít nhất là 10 người từ cõi chết trở về vì bị căn bệnh hiểm nghèo: bệnh Ung Thư Máu, hay còn gọi là bệnh bạch cầu, bệnh máu trắng.

CÃI TỬ HOÀN SINH CHO BỆNH NHÂN UNG THƯ MÁU (Bệnh Bạch Cầu)

Phần1: Sơ lược về Ung thư máu:

Ung thư bạch cầu hay còn có tên gọi ngắn gọn là bệnh ung thư máu (Leukomie, Leukemie) hay bệnh bạch cầu (máu trắng), thuộc loại ung thư ác tính.

Căn bệnh này là hiện tượng khi bạch cầu trong cơ thể người bệnh tăng đột biến. Nguyên nhân của bệnh chưa được xác định nhưng có thể là do các tác động của môi trường như ô nhiễm hóa học hay nhiễm chất phóng xạ hoặc cũng có thể là do di truyền. Bạch cầu trong cơ thể vốn đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ cơ thể nên chúng cũng khá “hung dữ”, đặc biệt khi loại tế bào này bị tăng số lượng một cách đột biến sẽ làm chúng thiếu “thức ăn” và có hiện tượng ăn hồng cầu. Hồng cầu sẽ bị phá hủy dần dần, vì vậy người bệnh sẽ có dấu hiệu bị thiếu máu dẫn đến chết.

Chúng ta tạm hiểu nôm na như vầy, do một nguyên nhân gì đó (nhiễm độc kim loại nặng, nhiễm phóng xạ, chất độc màu da cam…hay do di truyền). Tự nhiên số lượng bạch cầu trong cơ thể tăng lên đột ngột. Bạch cầu trong máu có nhiệm vụ như những “lính biên phòng”, “đội cận vệ”…luôn luôn túc trực sẵn sàng chờ có những sinh vật lạ như Vi rút, vi khuẫn, xâm nhập vào là lao tới tiêu diệt ngay. Đây là một đội “cảm tử quân” kiên dũng của cơ thể. Nhưng do đội quân này tự nhiên bị đột biến tăng quá nhanh, quá nhiều lần so với số lượng cho phép. Thế là những “ưu binh” này trở thành những “sát thủ”, những “lực lượng phản loạn”. Chúng đói ăn và quay sang tấn công, và “nhậu luôn”, xực hết luôn kẻ đáng lý ra chúng phải bảo vệ, đó là Hồng huyết cầu. Hồng huyết cầu sinh ra được bao nhiêu, thì bị bọn “kiêu binh” nổi loạn bạch cầu xơi tái hết. Vậy là sinh ra chứng bần huyết, Hồng huyết cầu suy giảm, bạch cầu tăng. Máu khôn còn đỏ, mà thành “sắc aó” bạch của đội quân này. Nên còn gọi là bệnh máu trắng.

Đây cũng là căn bệnh ung thư duy nhất không tạo ra u (ung bướu).

Hiện nay căn bệnh này đã có một số biện pháp điều trị nhưng hiệu quả không cao. Người dân ở các vùng nhiễm phóng xạ thường có tỉ lệ bị bệnh này rất cao (như 2 thành phố Hiroshima và Nagasaki sau thời chiến tranh đệ nhị thế giới ở Nhật).

Gần đây có một số nghiên cứu kết luận rằng, bệnh ung thư bạch cầu hay bạch cầu cấp đều không qua yếu tố di truyền

Ung thư máu được phân loại như sau:

Thể Lymphoid leukemia: Lymphatic, Lymphoblastic, Lymphocytic, Lymphogenous Granulocytic

Thể Myeloid leukemia: Granulocytic, Myeloblastic, Myelocytic, Myelogenous, Myelomonocytic, Myelosclerotic, Myelosis

Thể Monocytic leukemia, Histiocytic, Monoblastic, Monocytoid

Triệu chứng
Khi dạng bạch cầu ung thư phát triển nhanh trong tủy làm đau nhức, đồng thời chiếm chỗ và làm giảm sự phát triển những tế bào máu bình thường khác.

Bệnh nhân có thể có những chứng sau:

do sức công phá trong tủy: sốt, cảm lạnh, đau đầu, khớp.
do thiếu hồng cầu: mệt mỏi, yếu sức, da đổi thành màu trắng nhạt.
do bạch cầu không bình thường: hay bị nhiễm trùng.
do giảm khả năng làm đông máu: chảy máu nướu răng, dễ bầm.
biếng ăn, sút kí.
Nếu bệnh nhân là nữ thì sẽ có hiện tượng ra mồ hôi về ban đêm.

Điều trị
Hiện tại các phương pháp điều trị bệnh ung thư máu chủ yếu vẫn là thay tủy xương của người bệnh với tủy xương của một người hiến có tủy xương phù hợp (thích hợp nhất là người có chung huyết thống với người bệnh) để thay thế phần tủy xương đã bị hư hỏng và kích thích sinh ra hồng cầu cũng như kìm hãm sự gia tăng đột biến của bạch cầu. Tuy nhiên, dù có điều trị bằng phương pháp nào thì khả năng thành công cũng rất thấp, chỉ khoảng 10% và dù cho có thành công thì khả năng bệnh tái phát cũng rất lớn (khoảng từ 3 đến 5 năm)

Hiện nay ngoài cách ghép tủy (cuống rốn, cấy tế bào gốc….) còn có thể dùng hóa trị liệu, cho tới nay cách dùng hóa trị vẫn có triển vọng rất tốt cho các bệnh nhân. Ngoài ra đối với dòng Lympho còn có thể xạ trị màng não, ngăn ngừa tế bào phát triển lên não. Đối với những bệnh nhân có quá trình điều trị bệnh tốt, sức đề kháng tốt, thích nghi với môi trường tốt và nằm trong khoảng thời gian điều trị từ 3-5 năm có thể bình phục (lược thảo theo bách khoa toàn thư)

Phần2: Ung thư theo quan niệm Y lý cổ truyền:

Ung thư máu, hay là bệnh Ung Thư theo ngôn ngữ Y khoa hiện đại nói chung (cancer, carcinoma). Theo bệnh lý thì hoàn toàn khác với bệnh lý “Ung-Thư” trong ý lý cổ truyền. Có nghĩa là cùng một tên gọi như nhau, nhưng bệnh lý hoàn toàn khác nhau.

Nếu y học hiện đại coi ung thư (cancer, carcinoma) là một căn bệnh ác tính, khó trị liệu và thường dẫn đến tử vong thì y học cổ truyền phương Đông lại quan niệm về căn bệnh được gọi là Ung- Thư với nội dung hoàn toàn khác biệt.

So sánh hai cách gọi, thì đồng âm nhưng hoàn toàn khác nghĩa. Các bạn và ngay cả những người mới nhập môn Đông y cũng cần phải lưu ý việc này. Vì rất dễ nhầm lẫn những phương toa đặc trị Ung-Thư trong các y thư cổ là những toa thuốc “bí truyền” đặc trị bệnh Ung thư hiện đại (cancer, carcinoma)

Việc dùng danh từ ung thư theo âm Hán Việt trong các Y thư vốn được dùng để chỉ những chứng bệnh thông thường trong y học cổ truyền. Nếu dịch các từ cancer hoặc carcinoma của y học hiện đại một cách kém cẩn thận sẽ dẫn đến nhiều sự ngộ nhận và hiểu lầm rất nguy hiểm.

Khái niệm ung thư trong y học cổ truyền phương Đông là một khái niệm bệnh lý hoàn toàn khác, với khái niệm Ung thư mà người ta thường dùng hiện nay. Khái niệm này chỉ để mô tả những căn bệnh về tà khí rất thông thường, thậm chí là khá đơn giản trong hệ thống bệnh lý Á đông.
Có thể nói, danh từ ung thư đã được ghi lại sớm nhất trong Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn, một bộ sách y cổ nhất của phương Đông, và có thể nói là bộ sách nhập môn cho những người theo học Đông Y.

Trong phần Linh khu Ung thư thiên ở sách này có đoạn chép. Hoàng Đế đã hỏi Kỳ Bá : “Phu tử ngôn ung thư, hà dĩ biệt chi ?” (Lão sư nói về ung với thư, lấy gì để phân biệt ?).

Sau này, nhiều y thư cổ khác như Vệ Tề Bảo Thư, Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận, Y Tông Kim Giám, Ngoại Khoa Chính Tông, Dương Y Chuẩn Thằng, Ung Thư Thần Diệu Chân Kinh. Thái Bảo Thần Phương, và kể cả Hải Thượng Lãn Ông Y Tâm Lĩnh, Thương Hàn Luận cũng  đều đã đề cập đến với những kiến giải rất sâu sắc về Ung-Thư.

Gọi chung là Ung- Thư nhưng kỳ thực đó là hai bệnh danh khác nhau, chỉ có chung một số nguyên nhân gây bệnh giống nhau mà thôi. Đó là “ung chứng” và “thư chứng”.
Ung là chỉ loại, mụt nhọt (áp-xe , surface sore, internal abscess) phát sinh cấp tính ở giữa da cơ với tốc độ nhanh, sưng nóng đỏ đau, nổi cao lên có giới hạn rõ ràng, dễ làm mủ và dễ vỡ, khi vỡ mủ rồi thì dễ hàn miệng, tùy theo mức độ nặng nhẹ mà có hoặc không có các chứng trạng toàn thân như phát sốt, sợ lạnh, môi khô miệng khát.

Theo các y văn cổ, ung hàm nghĩa là khí huyết không thông vì độc tà ủng tắc.

Sách Nội kinh viết :” Dinh khí khổ lưu vu kinh mạch chi trung, tắc huyết khấp nhi bất hành, bất hành tắc vệ khí tòng chi nhi bất thông, ủng át nhi bất đắc hành, cố nhiệt. Đại nhiệt bất chỉ, nhiệt thắng tắc nhục hủ, nhục hủ tắc vi nùng, nhiên bất năng hãm, cốt tủy bất vi tiêu khô, ngũ tạng bất vi thương, cố mệnh viết ung” (Dinh khí ở trong kinh mạch, khi nó lưu hành không được thông sướng làm cho vệ khí bị ngăn trở nên mới phát sốt. Khi sốt cao không dứt, thế nhiệt quá mạnh làm cho thịt nát hóa thành mủ, nhưng nhiệt độc chỉ ở phần ngoài, không hãm vào trong, nên xương tủy và ngũ tạng không bị tổn thương, thì gọi là ung).

Sách Cảnh Nhạc Toàn Thư thì cho rằng : ung là do dương độc nhiệt tà ủng tắc phần ngoài gây nên, nếu thế nhiệt mạnh thì sưng nề nhiều, sắc da đỏ bóng, đau kịch liệt, dễ hóa mủ mà cũng dễ thu miệng, phát nhanh mà cũng dễ khỏi nhanh.

Theo cổ nhân, ung là do ngoại cảm lục dâm (sáu thứ tà khí bên ngoài), ăn uống quá nhiều đồ cay nóng và bổ béo, thấp nhiệt hỏa độc uất kết ở bên trong khiến cho nhiệt độc tà khí ủng trệ làm dinh vệ bất hòa, kinh lạc trở tắc, khí huyết ngưng trệ mà thành.
Tùy theo vị trí bị bệnh mà tên gọi và cơ chế bệnh sinh cũng có những điểm khác nhau. Nếu bị ở cổ thì gọi là cảnh ung, ở nách gọi là dịch ung, ở rốn gọi là tề ung, ở hông gọi là khoa ung, ở vú gọi là nhũ ung, ở hậu môn gọi là giang ung.

Nếu tổn thương nông thì gọi là ngoại ung, nếu sâu thì gọi là nội ung. Nếu bị ở phần trên cơ thể (đầu, mặt, cổ và tay) thì thường kèm theo phong tà, ở phần giữa cơ thể (ngực, lưng và bụng) thì thường có khí uất và hỏa uất, ở phần dưới cơ thể thì thường kèm theo thấp tà.

Ngoài ra, còn có nhiều tên gọi khác nhau tùy theo đặc điểm và tính chất như : ung thũng là nhọt sưng, ung nùng là nhọt đã hóa mủ, ung lâu là mụn nhọt vỡ lâu không hết mủ thành lỗ dò, ung độc là nhọt độc, ung sang là mụn nhọt ở nông đã vỡ mủ tạo vết loét lâu liền.

Thư là chỉ loại nhọt chìm sâu ở trong (deep-seated sore), phát sinh ở giữa gân cơ và xương, đau âm ỉ, khi chưa thành mủ thì khó tiêu, đã thành mủ rồi thì khó vỡ, khi đã vỡ thì khó liền miệng, mủ thường trong loãng, căn cứ vào lúc khởi phát có đầu hay không có đầu mà chia thành hai loại : đầu thư và vô đầu thư (nhọt độc và ap-xe sâu).

Tuy nhiên, xung quanh khái niệm về thư, các y thư và y gia mỗi thời kỳ cũng có nhiều kiến giải và cách gọi khác nhau.

Sách Nội Kinh viết :” Nhiệt khí thuần thịnh hạ hãm cơ phu, cân tủy khô, nội liên ngũ tạng, khí huyết kiệt, đương kỳ ung hạ, cân cốt lương nhục giai vô dư, cố mệnh viết thư. Thư giả, thượng chi bì yếu dĩ kiên, thượng như ngưu lãnh chi bì ; ung giả, kỳ bì thượng bạc dĩ trạch, thử kỳ hầu dã ” (Uất nhiệt đốt mạnh, mủ độc hãm vào trong da thịt làm cho gân héo tủy khô, lại hướng sâu vào trong ảnh hưởng đến ngũ tạng, khiến khí huyết khô kiệt, khi đã ở tầng sâu thì gân xương cơ nhục đều hủ nát, gọi là thư. Đặc trưng của thư là sắc da tối đen không tươi mà dày, giống như là ở dưới cổ trâu ; đặc trưng của ung là da mỏng và sáng bóng).

Cũng trong Nội Kinh còn có danh từ mãnh thư để chỉ một loại tổn thương viêm ở cằm trông giống như tổ ong, sau này gọi là tả hầu ung.

Sách Y Tông Kim Giám có khái niệm cầm thư để chỉ một loại tổn thương ở sống lưng gọi là đan độc (một loại bệnh nhiễm khuẩn cấp tính ở ngoài da, có đặc điểm vùng da nổi lên những quầng đỏ tươi và nóng, sau lan dần ra nhiều chỗ, thường kèm theo sốt, sợ lạnh, đau đầu, đau mình mẩy, trẻ em thì quấy khóc, kinh giật không yên), y học hiện đại gọi là viêm quầng (erisipelas).

Sách Ngoại Khoa Đại Thành thì có các bệnh danh như điều thư, đôn thư, tiêu thư để chỉ những đinh thũng ở chi trên (là loại nhọt nhỏ nhưng rễ sâu, viêm tấy phát triển nhanh làm mủ ngoài da, tiên lượng nặng, hình như cái đinh nên gọi là đinh thũng), còn những đinh nhọt mọc ở phần dưới má và dưới mũi thì gọi là đinh thư.
Ngoài ra, trong các y thư cổ khác còn ghi lại khá nhiều bệnh danh thuộc loại thư như : dịch thư (lao hạch nách), cổ âm thư (lao hạch đùi) và hiếp lặc thư (lao thành ngực và xương sườn). Những chứng này về sau tùy theo tính chất mà quy vào hai chứng bệnh loa lịch (lao hạch) và lưu đàm (lao xương khớp).

Sách Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận có bệnh danh nhũ thư , thực chất là một dạng nhũ ung nhưng thương tổn có đầu, cứng hơn và không dễ vỡ loét.

Sách Lưu Quyên Tử Quỉ Di Phương còn có bệnh danh thoát thư hay thoát cốt thư tức là bệnh viêm tắc động mạch của y học hiện đại do nhiều nguyên nhân gây nên với chứng trạng chung là hoại tử đầu chi do tắc mạch.
Như vậy, có thể thấy bệnh danh ung thư trong y học cổ truyền đã có một lịch sử lâu đời, thường dùng để chỉ các loại mụn nhọt nói chung và sau này còn được sử dụng để chỉ một số bệnh khác như lao hạch, lao xương khớp, viêm tắc động mạch.

Khái niệm này có nội dung hoàn toàn khác so với bệnh danh ung thư của y học hiện đại và nếu có cho là giống nhau thì cũng chỉ trong một phạm vi rất hẹp, cực kỳ hạn hẹp. Xem xét thấu đáo cả về lý thuyết và thực tiễn thì bệnh ung thư của Tây y thuộc phạm vi và có mối liên hệ tương đồng với một số bệnh chứng trong Đông Y là chứng Nham và chứng Thũng Lựu, chứng Uất Sạ, chứng Hoại Huyết, chứng Kết Thũng…..

Tương tự vậy Bệnh Ung máu (bệnh Bạch cầu, Máu trắng…) Trong y học cổ truyền không có tên bệnh nào có tên gọi vậy cả. Căn cứ vào biểu hiện lâm sàng, có thể xếp nó vào các loại hư lao, cấp lao, nhiệt lao cho đến huyết chứng, huy tích, chứng uất kết, bần huyết.

Bên ngoài thì cảm độc tà và nhiệt tà, bên trong thì tổn thương vì làm việc quá mệt mỏi, đói no không điều hòa, phòng sự quá nhiều, bị thất tình tổn hại, tiên thiên bẩm sinh không đủ, tất cả đều có thể gây ra bệnh này.

(Tư liệu sưu tập từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau)

Phần3: Phần Chính
Tôi Cãi Tử Hoàn Sinh Cho Bệnh Ung Thư Máu Như Thế Nào?

Vào tháng 10 năm 1997, Gia Cần gọi điện thoại cho tôi hỏi rằng, có vợ một người bạn Đức, bị bệnh Ung thư máu, bệnh viện trả về, sau khi từ mỗi tháng 1 lần truyền 4 lít máu đến mỗi tuần 1 lần, rồi đến mỗi tuần 2 lần, mỗi lần 4 lít máu. Giáo sư chuyên môn trực tiếp điều trị cho bà ta khuyên “nên tìm nhà thờ để cầu nguyện là vừa”, còn điều gì chưa thực hiện, còn mong muốn điều gì thì nên làm nhanh, vì có bà ta có thể sống không còn quá 5 tháng nữa. GC hỏi liệu có thể giúp gì được không, có còn nước còn tát không. Tôi trả lời khó có thể trả lời được, vì bệnh ung thư máu Đông Y chẩn trị là bệnh Bần Huyết. Mà bệnh này thì điều trị không khó, hồi theo sư phụ học nghề, tớ thấy ổng điều trị còn dễ hơn trị thương hàn, hay cảm cúm nữa. GC nó, tôi có thể sang bên đó coi giúp được không (Gia Cần là người đã từng chứng kiến thủ pháp chữa dứt bệnh Thiên đầu thống (Migräne) cho vợ của luật sư hắn ta chỉ qua 3 lần châm của tôi. Nên hắn rất tín dụng tôi). Tôi trả lời, nếu họ sang chỗ tôi thì được vì tôi không có điều kiện sang bên đó.

Hồi đó tôi đang đi học Y, và đang làm việc dưới trướng của Tiến sĩ Nguyễn Xuân Trang, tại thành phố Göttingen. Tiến Sĩ NXT là một bác sĩ mang quốc tịch Đức, gốc người Mỹ Tho (Dr. Nguyễn Xuân Trang thuộc Đảng CDU, là người sáng lập Hội Những Người Đức- Việt Dân Chủ một tổ chức thuộc Đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo Đức có nhiều đóng góp Nhân Đạo cho Việt Nam). Trong hai năm 1996 và 1997, không biết do vận xui gì mà tôi đã tàn phá hết 5 chiếc ô tô. Khi thì húc nhau, khi thì tự húc vào cột đèn, khi thì lao vọt ra khỏi đường cao tốc, xe nát bấy, nhưng người thì không hề bị một thương tích nhỏ. 5 chiếc ô tô phải vào nằm nghĩa địa xe trong chưa đầy 2 năm, nên tôi được mọi người quen biết tấn phong là “dũng sĩ diệt xe cơ giới” là vậy.

Thời gian mà Gia Cần gọi là đúng vào thời gian xui xẻo ấy của tôi. Vì vậy tôi không còn có phương tiện để sang bên Sachsen được. Từ Göttingen sang Leipzig cở độ 350 cây số thôi.

Người bạn Đức của Gia Cần là một thương gia đang phát đạt trong nghề đầu tư các hội chợ. Ông ta nghe GC quảng cáo về tôi, nên quyết định đưa vợ sang thử vận may cuối cùng.

Vợ ông ta lúc ấy đã rất yếu, chỉ còn thoi thóp chờ từng ngày. Ông ta đưa từ Leipzig sang Göttingen mất gần 8 tiếng đồng hồ, vì vừa đi vừa nghĩ, lại chạy đường làng, vì hồi ấy chưa có đường cao tốc A14.

Khi bắt mạch cho Maria,(người bị bệnh ung thư máu). Đúng như tôi dự đoán, tất cả những triệu chứng, mạch lý, và biểu hiện bệnh lý đúng như bệnh Bần Huyết mà ngày xưa thầy tôi thường trị cho dân nghèo ở các vùng núi chúng tôi thường đi qua. Khi xem bệnh xong, tôi mĩm cười nói với ông Dittmar (bạn Gia Cần): “Rất đơn giản, chữa trị còn dễ hơn chữa bệnh cảm nữa, ông cứ yên tâm, bà nhà sẽ chuyển bệnh trong vòng 2 tuần, hết bệnh trong vòng 1 tháng, sau 3 tháng thì hoàn toàn khoẻ mạnh như một người bình thường”.

Tôi cũng không biết vì sao lúc đó tôi tự tin đến thế, có lẽ vì tôi muốn lấy lòng tin khát sống và hy vọng sống của người bệnh. Và cũng có thể do một nhân duyên huyền bí nào đó, cho tôi sự tự tin đến ngạo nghễ như vậy. Một căn bệnh nan y của thế kỹ, đã qua biết bao nhiêu bệnh việt, qua bao nhiêu phương pháp điều trị hiện đại, nay bị bệnh viện trả về chờ chết mà tôi lại thản nhiên nói trị dễ còn hơn trị cảm cúm nữa, thì quả thật là quá hoang tưởng. Tôi tin ông bà Dittmar cũng sẽ nghĩ như vậy.

Đã có sẵn kinh nghiệm chữa trị bệnh Bần Huyết, tôi phác thảo một liệu trình trị bệnh ngay lập tức. Dùng ấn ma pháp đánh dọc hai dãy Du huyệt sau lưng để chuyển hóa dinh dưỡng và kích thích sự sinh huyết của tủy sống. Cho uống Hắc Hoàng Kỳ Phương để hoạt huyết và tạo máu từ tủy sống. Vì bệnh nhân quá suy nhược, cho nên bồi bổ thêm Thập Toàn Đại Bổ hầm với khấu đuôi bò. Xong

Ông Dittmar chở vợ mỗi tuần 2 lần từ Leipzig sang cho tôi dụng Y,  Hắc Hoàng Kỳ Phương thì tôi đã pha chế sẳn, ngày uống 3 lần. Mỗi tuần uống canh Thập Toàn Đại Bổ hầm khấu đuôi bò 3 lần.

Sau hai tuần, bệnh tình thuyên chuyển rất tốt, bà Maria không còn mệt mỏi hổn hà hổn hển nữa. Sau 3 tuần thì ngưng truyền máu. Sau 3 tháng gần như khỏi bệnh. Dùng Hắc Hoàng Kỳ Phương đến tháng thứ 6 thì ngưng. Bà Maria bình phục hoàn toàn như một người bình thường. Và sống đến bây giờ là đã là 13 năm và sức khoẻ rất tốt.

Sau vụ này báo chí Sachsen có viết bài nói đến phép lạ của một người Việt chữa bệnh Ung thư máu. Và từ đó danh tiếng của tôi khá “ồn ào” trong cộng đồng người Việt ở khu vực bên đó. (Hà hà…lúc lão Ba Đen và Gia Cần đọc đến đây thì cũng nên còm một phát báo tin sức khoẻ của bà Maria như thế nào chứ nhỉ, lâu lắm rồi tớ không biết tin tức về họ)

Bệnh nhân thứ 2 là một kỹ sư chế tạo máy, sinh ngày 20.06. 1964 đang làm việc cho hãng Airbus A380 ở Hamburg. Ông này có tình trạng cũng giống hệt như bà bệnh nhân trên kia. Cũng bị ung thư máu, đã qua hóa trị nhiều lần, và cũng đang trong tình trạng mỗi tuần truyền 4 lít máu. Ông này thì còn tệ hơn, là bác sĩ nói may lắm thì chỉ còn sống 2 tháng nữa, và hoàn toàn không còn hy vọng cứu chữa tiếp tục, trừ phi có phép mầu nhiệm của Đức Chúa Trời.

Ông này được đưa đến cơ sở nơi tôi đang làm việc. Hồi đó năm, 2007 tôi đang phụ trách chuyên môn ở Viện Châm Cứu Trung Y (Institut für Chinesische Akypunktur). Họ cũng coi như là đằng nào cũng chết, đến thử một lần xem sao.

Vẫn là phương pháp cũ, đánh dọc sống lưng bằng phép án ma (xoa bóp). Cho uống Hắc Hoàng Kỳ Phương. Vì bệnh nhân chưa đến nổi kiệt sức hoàn toàn, nên tôi không cho dùng canh Thập Toàn Đại Bổ hầm khấu đuôi bò nữa, mà cho uống thêm trà Linh Chi nguyên chất 100% tự nhiên. Có nghĩa là dùng nấm Linh Chi cả tai khô, xay bột và pha như pha cà phê, pha trà cho bệnh nhân uống. Ông này vì đã qua điều trị hoá trị, nên việc hấp thụ Hắc Hoàng Kỳ Phương hơi khó khăn. Vì vậy phải hơn 6 tuần mới ngưng truyền máu, và đến gần 8 tháng mới bình phục hoàn toàn.

Uống Hắc Hoàng Kỳ Phương do tôi bào chế đến tháng thứ 3 thì ngưng. Vì việc bào chế và nhập nguyên liệu tương đối khó khăn. Và lúc đó hãng Tisso cũng vừa sản xuất ra viên con nhộng Pro Curcumin Komplet và đã tung ra thị trường. Viên Pro Curcumin được sản xuất hoàn toàn đúng như thành phần của Hắc Hoàng Kỳ Phương, không sai một phân lượng nào. Vì vậy tôi cho bệnh nhân này uống viên Procurcumin thay Hắc Hoàng Kỳ Phương.

Ông này là người Nga gốc Đức, vốn sinh trưởng ở nước Kasachstan. Ông ta thấy ở cố hương ông ta có rất nhiều loại nấm giống nấm Linh Chi, nên vội vả về quê hái sang một ít cho tôi thẩm định. Tôi thấy đó đúng là nấm Linh Chi thật, mà lại là loại cực hiếm Huyết Linh Chi. Vì vậy ông ta đã về quê và nhờ một công ty dược phẩm ở đó bào chế nguyên chất đóng thành viên con nhộng, và nhập ngược lại Đức bằng đường bán buôn trên Intenet.

Đến nay, ông ta đã hoàn toàn bình phục và đã đi làm lại bình thường. Phép màu của Đức Chúa Trời ông ta thường nhắc lại chính là bột nghệ, bột tam thất và nấm linh chi.

Bạn có thể gọi điện thoại, hay gửi thư đến hỏi quá trình ông ta từ cõi chết trở về như thế nào, và qua ông ta có thể biết đặt mua viên con nhộng làm từ nấm huyết linh chi từ địa chỉ nào để bảo đảm an toàn và chất lượng nhất.
Địa chỉ:
Niklaus Waldman
Scheidelharg 3a
21159 Hamburg- Germany
Tele: 0049407026431
(Với người này bạn có thể hỏi bằng 3 thứ tiếng Nga, Đức, Anh)

Bệnh nhân thứ 3 là một phụ nữ bị cũng bị bệnh Ung thư máu, bà này còn có loại Carcinoma khác đã di căn vào xương. Bệnh viện cũng thông báo hết hy vọng. Hầu hết những bệnh nhân tìm đến tôi, đều là những bệnh nhân đã bị bác sĩ “tuyên án tử hình”. Đó cũng là một đặc điểm của bệnh nhân Đức, và có lẽ cũng là chung như vậy với những quốc gia châu Âu khác. Có bệnh đầu tiên là tới Tây Y, hết thuốc chữa, không còn hy vọng gì ở đó nữa, mới tìm đến những phương pháp khác ngoài luồng của hệ thống bảo hiểm y tế chi phí.

Vẫn là Hắc Hoàng Kỳ Phương qua viên con nhộng Pro Curcumin von Tisso, và trà nấm Linh Chi nguyên chất. Sau khi cắt được cơn bệnh nhờ uống thường xuyên hai thứ thuốc trên, thì tôi cho bà này tập theo bộ khí công Thiên Lý Tiêu Dao nữa để phòng chống di chứng sau này. Hiên nay đã sau 3 năm trị liệu, sức khoẻ của bà rất tốt, qua nhiều lần kiểm tra, thấy bệnh bạch cầu hoàn toàn đã biến mất.

Bạn có thể liên lạc với bà Doke để biết thêm kinh nghiệm:
Địa chỉ:
Dobke Claudia
Heirich-Geiek str 39
22549- Pinenberg
Tele:00494101514790
(Bằng tiếng Đức và tiếng Anh)

Một bệnh nữ bệnh nhân khác cũng bị bệnh bạch cầu thể Luymphoid. Thể có kèm theo ung thư hạch, cũng được dùng phương pháp trên để trị liệu, không những đã chấm dứt được tình trạng nguy hiểm bệnh theo hạch lên não, mà cũng đã chấm dứt hoàn toàn triệu chứng của bệnh ung thư máu thể Lymphoid Leukemia.

Bạn cũng có thể liên lạc theo địa chỉ dưới đây để hỏi thêm kinh nghiệm:
Beukenberg Bettina
Flaßbarg 108c
22549 Hamburg-Germany
Tele: 0049408326261
(Bằng tiếng Đức hoặc tiếng Anh)

(Lưu ý, các bạn cứ yên tâm những người này đã đồng ý trả lời và đồng ý cho công khai bệnh lý để nhằm mục đích nghiên cứu y tế, nên trong khi tôi đưa ra tư liệu không bị phạm luật bảo mật tư liệu cá nhân đâu)

Và còn nhiều bệnh nhân khác nữa đến từ nhiều quốc gia khác nhau, cũng được cãi tử hoàn sinh bằng phương pháp cực kỳ đơn giản này:

Đánh Cột Sống- Hắc Hoàng Kỳ Phương- Nấm Linh Chi


Một điều lưu ý cực kỳ quan trọng là liệu pháp này chỉ có tác dụng và có tác dụng với xác suất chữa khỏi bệnh rất cao, gần như tuyệt đối với bệnh Ung thư máu (Leukemia) chứ có kết quả không rõ rệt với các loại ung thư khác.

Đây là một liệu pháp mà tôi đã sử dụng và đưa nhiều người từ cõi chết trở về, các bạn có thể đưa liệu pháp này cho những lương y của bạn để dụng y nếu có người nhà mắc bệnh này. Thậm chí các bạn có thể đưa liệu pháp này ra cho những cơ sở Y tế của Việt Nam, kiểm chứng và ứng dụng lâm sàng. Có thể với chức năng và qui mô nghiên cứu của họ, họ có thể hoàn thành được một liệu pháp hữu hiệu cho chứng bệnh nan y này.

ĐÁNH CỘT SỐNG

Hệ thống Du huyệt như Tâm du, Phế du, Cách du, Tiểu trường du, Đại trường du, Thận du, Can du….thuộc bàng quang kinh là hệ thống huyệt theo y lý cổ có tác dụng bồi bổ, vận chuyển khí huyết và tác dụng kích hoạt các cơ quan nội tạng tương ứng. Nó là chính là các huyệt kích thích sự hoạt huyết sinh tinh, và bổ dưỡng cho cơ thể, ngoài ra còn có các tác dụng kích hoạt hoạt động của tủy sống và não bộ. Dùng phép án ma day bấm các huyệt này có tác dụng sinh tinh bổ huyết hoạt khí rất hữu hiệu. Chính vì vậy mà đây chính là biện pháp đều tiên cần phải dụng thuật khi điều trị cho người bị bệnh Bần huyết.

Dùng  nắm đấm ngón tay quỉ, đánh dọc hai bên sống lưng như vậy


Có thể đánh mỗi ngày 3 lần

Đánh lên đánh xuống thế nào cho da đỏ rực lên là được

Đánh kéo dài từng chuỗi từ gần cổ xuống thắt lưng

Nên dùng tay, đừng nên dùng các lại dụng cụ khác, nhất là kim loại

HẮC HOÀNG KỲ PHƯƠNG

Hắc Hoàng Kỳ Phương là toa thuốc có xuất xứ từ Tây tạng. Vào những năm cuối của Thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21 Y học cổ truyền của Tây tạng (Tibet Medizin) du nhập vào các nước Châu Âu rất rầm rộ. Đặc biệt là phương pháp chữa trị ung thư bằng thảo dược. Rất nhiều ca bệnh Ung thư đã được phương pháp đơn giản này chữa trị. Truyền hình, báo chí và các tập san y tế đăng tải thường xuyên về vấn đề này. Và đến nay ngoài  Y học cổ truyền Trung hoa, đã được nền Y học hiện đại chấp nhận như một phương thức đặc biệt trong hệ thống Y khoa hiện hành, thì Y học Tây tạng cũng được song song tồn tại hợp pháp với những luật định y tế của Châu Âu. Riêng với nước Đức về các loại thuốc thảo dược có xuất xứ từ Trung hoa, Tây tạng nói riêng và từ nước ngoài nói chung thì không được các hệ thống bảo hiểm y tế thanh toán, đó là luật y tế rất đặc biệt của Đức, nhằm bảo vệ quyền lợi cho các nhà sản xuất thuốc hoá dược. Vì vậy các loại thuốc có nguồn gốc từ thảo dược, chỉ được sản xuất trong các Công ty thuốc phục vụ cho phương pháp trị bệnh tự nhiên. Các loại thuốc này lưu hành mặc dầu được phép sản xuất, nhưng không được các tổ chức bảo hiểm y tế thanh toán. Vì vậy dù có hiệu quả cao, nhưng cũng rất khó đến với người sử dụng. Chỉ khi bệnh nhân không còn hy vọng vào hiệu năng của Y học hiện đại nữa họ mới tìm đến bằng hầu bao của mình. Hắc Hoàng Kỳ Phương là toa thuốc cũng nằm trong tình trạng đó. Hiệu năng của nó có thể phòng ngừa được bệnh ung thư, đối với các khối u phát hiện sớm, không những ngăn chặn được sự phát triển, mà còn có thể co kết khối u nhỏ lại. Đặc biệt rất hữu hiệu cho việc phòng ngừa di căn sau các phương pháp trị liệu của Tây y. Nhưng nó cũng chỉ đến với bệnh nhân, khi họ không còn có thể bám víu vào Bệnh viện nhà nước được nữa.

Nội Dung Của Hắc Hoàng Kỳ Phương:
Hắc Hoàng Kỳ Phương là toa thuốc được thành lập chỉ từ 2 vị thuốc, đó là Củ Tam Thất có màu đen nhánh như sừng (hắc) và Củ Nghệ có màu vàng (hoàng) ( ngạn ngữ : Đen như củ tam thất, hoặc mặt vàng như nghệ): Toa thuốc có tác dụng tiêu ung chỉ huyết, thông trệ, trục ứ dùng để hoạt huyết, đả thông các khối ứ, bầm dập, khu trục ung thủng. Tỷ lệ phối toa nguyên thuỷ là 6 nghệ 4 tam thất, tuỳ chứng mà định liều dùng.

1) Tam Thất:

Cây tam thất còn có tên là Kim Bất Hoán, Nhân Sâm Tam Thất, Sâm Tam Thất, thuộc họ Ngũ Gia Bì, tên khoa học là Panax Noto Ginseng. Tam thất là củ rễ phơi khô của Cây Tam Thất, Là vị thuốc rất quí, vàng cũng không đổi được ( Kim Bất Hoán= Vàng không đổi). Tam thất có nhiều cách giải thích về tên gọi, Bản thảo cương mục ghi là cây có 3 lá bên trái và 4 lá bên phải ( tam= 3, thất= 7). Có sách lại cho rằng lá tam thất có từ 3 đến 7 chét. Nhưng có lẽ chính xác nhất là do đặc điểm thu lượm của vị thuốc này, Vì cây Tam thất từ khi gieo trồng cho đến khi ra hoa phải mất 3 năm mới ra hoa, và phải sau 7 năm mới thu lượm được
Tam thất vị ngọt hơi đắng, tính ôn vào hai kinh Can và Vị, đặc biệt có tính dẫn tốt vào các phủ Kỳ hằng như Dạ con, tuyến vú, Não bộ. Có tác dụng hành ứ, cầm máu, tiêu thủng dùng chữa thổ huyết, chảy máu cam, lỵ ra máu, ung thủng, bị đòn tổn thương v..v..
Chiết xuất hoạt dược Arasapomin A và Arasapomin B từ Tam thất, có tác dụng hoạt huyết, tiêu ung, tan ứ rất tốt. Tam thất có xuất xứ từ Vân nam, Quảng tây, Tứ xuyên, Hồ bắc, Giang tây (Trung quốc). Vân nam là tỉnh trồng nhiều nhất, và tam thất Vân nam, được các Lương y coi là tốt nhất. Ở nước ta cũng có trồng nhưng rất ít, phân bố ở Mường khương, Bát xát, Phà lùng, Hà giang..
Cần lưu ý tránh nhầm lẫn với cây Thổ tam thất thuộc họ Cúc, trồng ở đồng bằng. Và cây Tam Thất Vũ Điệp là một loại cây không có củ khác.

2) Củ Nghê:

Nghệ còn có tên là Uất Kim, Khương hoàng, thuộc họ Gừng có tên khoa học là Curcuma, Nghệ được trồng khắp nơi ở nước ta, dùng làm gia vị và thuốc. Theo nghiên cứu mới nhất của Y học , chất màu curcumin, được chiết xuất từ nghệ(0,3), có khả năng thẩm thấu qua vách của tế bào, và có tác dụng phục hồi những rối loạn phân huỷ năng lượng của tế bào, nên có khả năng chống lại bệnh ung thư, và bệnh giảm chức năng miễn dịch (HIV)
Theo tài liệu cổ, nghệ có có vị cay và đắng, tính ôn vào hai kinh Can và Tỳ, nghệ có tác dụng phá ác huyết, huyết tích kim sang và sinh cơ(lên da), chỉ huyết ( Đàn bà có thai, và sau khi sinh mà không có nhiệt kết không nên dùng)

3) Cách dụng toa như sau:

a) Đối với bệnh ung thư đã qua điều trị, xạ liệu, hoá liệu, hay giải phẫu, để ngăn chặn di căn, thì dùng ngay sau khi đã thực hiện liệu pháp. Cách dùng như sau:
Ngâm củ Tam thất vào nước cho mềm thái thật mỏng độ 12 gam ,thái nghệ tươi cũng từng lát mỏng độ 18 gam, để chung hai thứ đem chưng cách thuỷ, hay để vào bát hấp trên nồi cơm, khi chín đem ra ăn khi đang nóng trước bữa ăn độ 2 tiếng đồng hồ, có thể chiêu với nước cơm thì tốt hơn.
Ăn độ 21 ngày đến 1 tháng như vậy thì ngưng. Sau đó dùng toa tán bột cũng với tỷ lệ 4 phần Tam thất 6 phần Nghệ, ngày 1 lần, mỗi lần 7 gam chiêu với một muỗng cà phê dầu mè (vừng), mà nuốt.

b) Đối với bệnh ung thư giai đoạn 1, được phát hiện  sớm  thì thành phần có thay đổi 18 gam Tam thất và 18 gam Nghệ, cách dùng như trên. Kết  hợp với luyện tập  Tĩnh công ( Lục tự Quyết), thì cách này có tác dụng, ngăn chặn sự phát triển và co kết khối u rất tốt ( có nhiều trường hợp Ung thư vú, Ung thư dạ con đã dùng toa này mà không cần các phương pháp trị liệu khác, khối u không phát triển nữa, và co kết lại)

c) Toa này được thay đổi thành phần 3 tam thất 7 nghệ , tán thành bột, ngày uống 3 lần mỗi lần 5 gam chiêu với dầu vừng. Đây chính là toa Hắc Hoàng Kỳ Phương dùng trong bệnh Leukemia – Ung thư máu- Bệnh bạch cầu hay là máu trắng

Hãng Dược Liệu Tự Nhiên Tisso có loại thuốc con nhộng cũng được bào chế từ công thức trên, giá thành đắt (40 euro/60 viên dùng cho 1 tháng), mà tác dụng không hiệu quả bằng toa tán bột, nhất là ở Việt nam thì toa này quá dễ và rất rẽ để sử dụng.

Bạn có thể gõ vào google, để đọc thêm về các loại thuốc của hãng này, và cách đặt mua loại thuốc tương đương như Hác Hoàng Kỳ Phương này

Trà nấm Linh Chi


Rất đơn giản, lấy nấm linh chi phơi khô tán bột nguyên chất, mỗi ngày dùng ba tách, mỗi lần pha độ một thìa canh đầy bột Linh chi, có thể chiết pha nhiều lần nước mà dùng dần.

Nấm cổ linh chi độ 50 năm tuổi thu lượm ở rừng Cúc Phương

Một tai nấm linh chi 3 năm tuổi nuôi trồng công nghiệp từ Hàn Quốc

Giống của Hàn Quốc chính là giống Huyết Linh Chi nhưng chất lượng nuôi trồng công nghiệp rất kém. Còn giống của Cúc Phương là Huyền Linh Chi, tuy danh tiếng không bằng Huyết Linh Chi nhưng chất lượng tự nhiên hơn

Bề dày của tai cổ linh chi Cúc Phương đã gần như hóa gỗ, nhưng tác dụng điều hòa cực tốt


Tai nấm của Hàn Quốc nhẹ hều, xốp, không có chất lượng
_________

Mọi thắc mắc về liệu pháp, cách ứng dụng và liều dùng, đều được tư vấn cặn kẽ qua comment ở topic này

Người thực hiện Lương y Thanh Long Quảng Nhẫn
24.12.10